CHUẨN ĐOÁN TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Trào ngược dạ dày thực quản là bệnh đường tiêu hóa khá phổ biến ở nước ta hiện nay, và có xu hướng không ngừng tăng lên. Bệnh không chỉ ảnh hưởng đến chất lương cuộc sống mà còn có nguy cơ biến chứng sang những bệnh lý nguy hiểm khác. Việc chuẩn đoán trào ngược dạ dày để xác định hướng điều trị cần được xem xét, cân nhắc kỹ, nhằm tránh những sai sót không đáng có xảy ra. 

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là tình trạng trào ngược các thành phần dịch từ dạ dày vào trong thực quản một cách không tự ý. Mọi người đều có trào ngược dạ dày thực quản một chút sau bữa ăn, điều đó xảy ra khi chúng ta ợ hơi để loại bỏ không khí được nuốt vào trong khi ăn.

Ở thời điểm đó, cơ vòng thực quản dưới dãn ra và cho phép các thành phần dịch trong dạ dày vào thực quản. Các giai đoạn đó xảy ra trong thời gian ngắn, tần suất ít, đặc biệt sau ăn và không gây ra triệu chứng gì, được gọi là trào ngược dạ dày sinh lý. Còn trào ngược bệnh lý xảy ra thường xuyên hơn, kéo dài hơn và có thể gây ra triệu chứng lâm sàng với nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên, khó phân biệt được trào ngược sinh lý và trào ngược bệnh lý.

Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ trẻ mới sinh cho đến người già (có thể chẩn đoán lầm thiếu máu cơ tim), nhưng thường gặp ở trẻ em, đặc biệt trẻ nhũ nhi và trẻ sơ sinh thiếu tháng.

Bệnh cận lâm sàng rất đa dạng và để chẩn đoán có nhiều phương tiện khác nhau và có độ nhạy, độ chuyên biệt khác nhau.

Chuẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản :


Dưới đây là các xét nghiệm và các bước chẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản :

Chuẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản
Chuẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản

Trong đa số trường hợp chẩn đoán chủ yếu dựa vào hỏi bệnh sử và qua theo dõi thấy có đáp ứng với điều trị thử. Triệu chứng điển hình của bệnh trào ngược dạ dày thực quản là chứng ợ hơi ợ chua, ợ nóng. Nếu ợ nóng hoặc có các dấu hiệu và triệu chứng thường xuyên, bác sĩ có thể chẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản (GERD). Có thể tiến hành điều trị thử với các thuốc ức chế bơm proton (Omeprazole, Lansopra-zole, Rabeprazole). Những ca có triệu chứng không điển hình thường cần được thăm dò cận lâm sàng để xác định chẩn đoán.

Bác sĩ cũng có thể đề nghị sử dụng xét nghiệm và thủ tục để chẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản, bao gồm:


X quang hệ thống tiêu hóa trên. Đôi khi được gọi là uống bari, thủ tục này liên quan đến việc uống một chất lỏng tạo áo khoác và lấp đầy các hốc của đường tiêu hóa. Sau đó, X quang chụp đường tiêu hóa trên. Loại lót này cho phép bác sĩ nhìn thấy một hình bóng của hình dạng và vấn đề của thực quản, dạ dày và ruột non (tá tràng) trên.

Nội soi. Nội soi là một cách để kiểm tra bên trong thực quản. Trong khi nội soi, bác sĩ đưa một ống được trang bị ánh sáng và camera xuống cổ họng. Nội soi thực quản giúp phát hiện các biến chứng của bệnh như viêm thực quản, loét, hẹp thực quản và chuyển sản Barrett. X-quang thực quản chỉ phát hiện các biến chứng teo hẹp, loét thực quản, hoặc thoái vị hoành. Đo áp lực cơ thắt dưới thực quản không chính xác vì nhiều nguyên nhân trào ngược dạ dày như thay đổi áp lực với khẩu kính ống đo, với cử động hô hấp… 

Theo dõi số lượng axit trong thực quản. Kiểm tra pH, sử dụng thiết bị đo acid để xác định acid dạ dày trào ngược thực quản khi nào và trong bao lâu. Ống thông luồn qua mũi vào thực quản. Đầu dò truyền tín hiệu đến máy tính nhỏ đeo quanh eo trong khoảng hai ngày. Bác sĩ có thể yêu cầu ngừng dùng thuốc chống trào ngược dạ dày thực quản (GERD) để chuẩn bị cho thử nghiệm này.

Đo chuyển động của thực quản. Biện pháp trở kháng chuyển động thực quản và áp lực trong thực quản. Các thử nghiệm bao gồm đặt một ống thông qua mũi vào thành thực quản. Đo pH thực quản là phương pháp tin cậy hơn để chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày thực quản nhưng không xác định được các tổn thương thực thể do trào ngược. Nghiệm pháp Beratein, không nhạy và không đặc hiệu, thường dùng trong chẩn đoán nguyên nhân của đau ngực không do tim.

>>> Phương pháp điều trị trào ngược dạ dày hiệu quả


Share on Google Plus
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét :

Đăng nhận xét